Thứ Tư, 7 tháng 11, 2018

ẤN ĐỘ

Sông Ấn chính là cái nôi của nền văn minh Ấn Độ,mà dân bản địa gọi là sông Sindhu. Người Iran láng giềng phát âm là Hindu, nên gọi tên nước là xứ Hindu _ Hinduxtan. Người Hy Lạp gọi tên sông là Indus, và tên nước là India, dịch qua âm Hán gọi là Ấn Độ. Nhưng bản thân người Ấn Độ lại lấy tên một ông vua truyền thuyết thuỷ tổ để đặt tên chính thức cho nước mình - BHARAT. Vì thế qua sứ quán Ấn Độ, đừng ngạc nhiên khi thấy họ ghi Republic Bharat. 
Ấn Độ có lịch sử hơn 5000 năm. Chủ nhân đầu tiên là chủng tộc da đen Negrito trên lưu vực sông Ấn và sông Hằng (Ganna). Khoảng 3000 năm TCN, người Arien da trắng đổ bộ vào, tạo ra sự hỗn hợp, và văn minh Ấn bắt đầu. Đặc điểm nổi bật ban đầu là chế độ chủng tính Varna và sự chia cắt. 
Đạo Bà la môn ra đời vào TNK thứ nhất TCN, chia xã hội Ấn Độ thành 4 đẳng cấp : Bà la môn, Kcatrya, Vaicya, và Cudra. Trong đó đẳng cấp thứ 4, Cudra là tiện dân, và còn loại tiện dân của tiện dân, là loại Paria, loại này chuyên làm công việc gánh phân và thanh toán xác chết. Sau này, năm 1921, tại Pari, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã ra một tờ báo lấy tên đẳng cấp này, gọi là tờ Le Paria ( Người cùng khổ). 
Sự chia cắt. Hãy tưởng tượng Ấn Độ như nhiều mảnh đất vỡ vụn, sau một thời gian, có mảnh đất lớn thống nhất các mảnh đất nhỏ, rồi lại vỡ vụn, rồi lại thống nhất, để đến hôm nay, từ một nước Ấn Độ cổ xưa đã biến thành nhiều quốc gia : Ấn Độ, Pakixtan, Băngladet, Butan.... Sự chia cắt đó có từ thời lập quốc, khi xuất hiện những thành thị bên lưu vực sông Ấn và sông Hằng, bên cạnh những công xã nông thôn rất lạc hậu. Một sợi dây liên kết các vùng Ấn Độ với nhau dưới triều đại Magada, đó là đạo Phật. Đạo Phật ra đời để phản kháng chế độ chủng tính Varna, điều hoà các giai cấp xã hội. Ngay trước CN, vua Asoka đã truyền bá Phật giáo khắp Ấn Độ thống nhất. Ông vua có hai bộ mặt tàn ác và nhân từ này có điểm gì giống với Lý Thường Kiệt của Việt Nam. Họ Lý, sau khi tàn sát hàng vạn người Tống ở thành Ung Châu mùa đông 1075, và hàng vạn người Champa năm 1070, cuối đời cho xây bao nhiêu ngôi chùa để sám hối. Asoka đã có công truyền bá Phật giáo khắp xứ Ấn, và đưa Ấn vào thời kỳ phong kiên,với 3 triều đại chính : Gupta, Hồi giáo Đeli, và Mogol. Trong đó, Gúp ta ( những thế kỷ đầu CN) có tính chất định hình phong kiến Ấn Độ, Hồi giáo Đê Li là sự giao thoa hai nền văn minh đông tây, và Ấn Độ Mogol là sự giao thoa cưỡng ép của một bộ tộc mạnh về quân sự nhưng yếu hơn về văn hoá với Ấn Độ, để cho đất nước vốn bị chia cắt này trở nên bạc nhược vào thế kỷ 18, và văn minh phương Tây tràn vào. 
Trong bối cảnh đó, người Ấn Độ thực sự làm chúng ta kinh ngạc với sự sáng tạo vĩ đại của họ. Đó là đất nước của triết học. Triết học Ấn Độ hoà quyện với tôn giáo, trong khi Triết học Trung Quốc nhuốm màu chính trị, Triết học Hy Lạp Roma hướng vào khoa học. Tôn giáo Ấn Độ có sự kế thừa liên tục qua 3 tôn giáo chính : Bà la môn, Ấn Độ giáo, Phật giáo. Đến thế kỷ 8 thêm một tôn giáo nữa ngoại lai là Hồi giáo, và bắt đầu cuộc chiến tranh khốc liệt giữa các tôn giáo, để cuối cùng đạo Phật bị biến mất ở chính nơi sinh ra nó. 
Người Ấn phát minh ra hệ chữ số 1,2,3....và cả số 0, nhưng người arap lại truyền bá sang phương Tây, và họ không cải chính khi người Phương Tây gọi đó là số arap. Cờ vua cũng của Ấn Độ, giá trị số Pi chính xác gần tuyệt đối (3,1416), họ giải phẫu cơ thể người đầu tiên trên thế giới, hay có thể viết ra bộ kinh Veda vĩ đại và 2 bản anh hùng ca có số câu dài nhất thế giới. Có điều đó, vì họ phát minh ra chữ Phạn ( sankrit) đạt tới trình độ nghệ thuật, vượt qua chữ tượng hình, thành chữ tượng thanh. 
Nếu Trung Quốc là một kẻ xâm lược, cướp đất, một đế quốc lớn nhất phương Đông, thì Ấn Độ cũng là một Đế Quốc, mặc dù quốc gia này chưa bao giờ đi xâm lược nước nào. Họ xâm lược bằng văn hoá. Văn hoá Ấn đi khắp châu Á và thế giới. Chữ Phạn, đạo Phật, triết học cổ xưa, toán học... 
của Ấn Độ đã góp phần xây dựng bao nhiêu nền văn minh, trong đó có cả Việt Nam. Phật giáo, ngôn ngữ, kiến trúc, hoa quả của Ấn Độ còn in dấu dày đặc ở Việt Nam. Ấn Độ thật sự là một Đế Quốc văn hoá. 
Ấn Độ suy yếu vào thế kỷ 17, 18. Văn minh phương Tây vào Ấn qua nước Anh. Nhưng Ấn Độ không mạnh lên như Hồng Kông hay Xinhgapo. Dù rằng thế kỷ 19,20 ở đất nước vĩ đại này vẫn cống hiến cho nhân loại những cá nhân lỗi lạc. Đó là vị thánh tuẫn tiết cho nền độc lập tự do của Ấn Độ _ Mahatma Găngdi, nhà thơ vĩ đại của những tâm hồn Ấn Độ, người châu Á đầu tiên đoạt Nobel văn học _ Tagor, nhà cách mạng không hề biết mệt mỏi _ G.Tilac, người kiến trúc sư của nước Ấn Độ mới _ G.Neru, người Hiệp sĩ của thời đại, bà mẹ anh hùng của nhân dân Ấn Độ _ Indira Gangdi. Những con người làm thay đổi cả đất nước Ấn Độ huyền thoại. 
Cái gì đang cản trở Ấn Độ hiện nay? Và tương lai của Ấn Độ? 
Đến Ấn Độ hôm nay, có quả nhiều sự đối lập. Ấn Độ có nhiều nhà khoa học tầm cỡ thế giới, bất cứ quốc gia nào cũng thèm muốn, bên cạnh một nửa dân số mù chữ. 
Ấn Độ có những thành phố hiện đại bậc nhất thế giới, bên cạnh những vùng nông thôn như công xã thời trung cổ. 
Ấn Độ có vệ tinh nhân tạo, có tàu vũ trụ, có bom hạt nhân, bên cạnh những dụng cụ thô sơ mà người nông dân ven sông Ấn, sông Hằng vẫn đang sử dụng. 
Vậy, Ấn Độ có tương lai như Trung Quốc không? 
Câu trả lời là không, mặc dù họ là quốc gia nói tiếng Anh. 
Vì sao vậy? 
Vì sự chia cắt đã ngấm vào máu. Ấn Độ bây giờ là nhiều quốc gia trong lòng một quốc gia. Mỗi bang lại có một chính sách riêng. Lại nữa, sự gia tăng dân số vượt quá mức tưởng tượng. Những yếu tố đó cản trở họ, ít nhất là trong thế kỷ này.
                                                                                              Phúc Yên: 01. 11. 2018.

Thứ Hai, 29 tháng 10, 2018

VIỆT NAM

LƯU DẤU KỈ NIỆM
( Tây Thiên 2012 )

Việt Nam lập quốc vào khoảng thế kỷ 7 TCN, như vậy lịch sử đất nước có 2700 năm, thay vì 4000 năm như nhiều người nghĩ. Con số 4000 năm do một số nhà nho đầu thế kỷ 20 đặt ra để cổ vũ lòng yêu nước, trong đó có Tản Đà ( nước 4000 năm ai người lớn / dân 20 triệu vẫn trẻ con) . Hiến pháp 1992 ghi : nước ta có lịch sử mấy nghìn năm. Một sự thận trọng cần thiết. 
Khởi đầu là một nhóm trên lưu vực sông Hồng, sau này gọi là văn minh sông Hồng, họ sống bằng hai nghề chính là đánh cá và trồng trọt. Nhược điểm lớn nhất của người Việt là không có chữ viết. Vì vậy khó biết những suy nghĩ đầu tiên của họ,cũng như những dấu hiệu ban đầu của nền văn minh. Những cái tên như Văn Lang Âu Lạc là do các nhà trí thức của Việt Nam và Trung Quốc sau này dùng chữ Hán để phiên âm tiếng Việt. 
Chẳng hạn như từ chữ Po khum, nghĩa là thủ lĩnh, phiên thành Hùng Vương
Từ chữ Tục Pắn, tên riêng, phiên thành Thục Phán 
Từ chữ mệ nương, cô gái tên Nương, phiên thành Mị Nương..... V.v....
Riêng từ Giao Chỉ là do người Hán đặt cho ta. Nó không có nghĩa chỉ hai ngón chân người Việt giao nhau, mà ý nghĩa sâu sa của nó là chỉ một miền đất. 
Từ Văn Lang, tương tự thế, nguyên nghĩa chỉ Con Người. 
Vì không có chữ viết nên óc sáng tạo của người Việt bị hạn chế. Họ chỉ có tư duy cụ thể, và chưa bao giờ đạt tới tư duy trừu tượng. Đặc điểm này có ưu điểm là người Việt sẽ có một kho tàng văn nghệ dân gian phong phú, nhưng nhược điểm là suốt hơn 1000 năm phong kiến, không có một nhà khoa học nào đúng nghĩa. 
Ngay khi lập quốc, người Việt đã phải đối phó với ba thách thức : dịch bệnh, nạn đói và chiến tranh. Ba thách thức này đi suốt chiều dài lịch sử dân tộc. Chỉ đến đầu thế kỷ 21 mới cơ bản giải quyết xong. 
Trong ba thách thức đó, chiến tranh là thách thức nghiêm trọng nhất. Nó đến từ phương bắc là chủ yếu. Bi kịch kéo dài hơn 1000 năm bị Trung Quốc đô hộ. Mặc dù đã đồng hoá được hết các bộ tộc phía nam Trường Giang, nhưng Trung Quốc không thể đồng hoá được người Việt. Nguyên nhân cơ bản là cơ sở kinh tế xã hội của người Việt là làng xóm. Họ sống trong làng, với luỹ tre bao bọc xung quanh, văn minh ngoại lai không thể vào được, chỉ quét một lớp sơn trên bề mặt. Từ làng, đến liên làng, đến siêu làng, cả nước là một cái làng lớn. Vì vậy, giữ được làng là giữ được nước, mà muốn giữ làng trước hết phải giữ được tiếng nói. Suốt hơn ngàn năm Bắc thuộc, bằng mọi cách người Việt giữ tiếng nói. Có thể tạo ra một từ ký sinh ví dụ : gà qué, chó má, người ngợm. Trong đó qué, má, ngợm là từ ký sinh bên từ chính. Làm thế để không quên được từ chính. 
Có thể phát minh ra lối nói lái, tiếng lóng, hay từ láy, theo kiểu con chuồn chuồn, con cào cào, con châu chấu.... 
Vì vậy, khi giữ được tiếng nói, dân Việt không bị đồng hóa, dù rất nhiều đời, Trung Quốc đem người Hán sang ở chung với người Việt, kết quả ngược trở lại, những người Hán này trở thành người Việt, nhiều người còn đứng ra lãnh đạo phong trào đấu tranh chống phương Bắc. Điển hình như Lý Bí thế kỷ 6. 
Bước ngoặt vào thế kỷ 10, khi Ngô Quyền giành độc lập vĩnh viễn. Vốn liếng trong tay Ngô Quyền có : tiếng nói, phong tục tập quán, nền kinh tế tiểu nông, chữ viết Hán _Nôm và một lãnh thổ kéo dài đến Nghệ An hiện nay. 
Ba triều đại đầu tiên : Ngô, Đinh, Tiền Lê có tính chất định hình cho chế độ phong kiến Việt Nam. Rất sơ khai, đơn giản trong cấu trúc nhà nước và cơ cấu kinh tế. Chỉ đến khi nhà Lý ra đời 1009, xã hội phong kiến mới định hình rõ nét. Từ Hoa Lư ra Thăng Long không chỉ có ý nghĩa về mặt thay đổi vị trí địa lý, mà còn là sự thay đổi về nhận thức của một ông Vua chuyên chế, quyết tâm xây dựng một nhà nước phong kiến tập quyền vững mạnh. Hai triều đại Lý Trần dựa trên tư tưởng Phật Giáo, do đó tính nhân đạo thể hiện rõ nét. Không có sự cách biệt nhiều giữa vua, quan với dân. Yết Kiêu, Dã Tượng là nô lệ của Trần Quốc Tuấn, nhưng đã trở thành anh hùng trong cuộc kháng chiến chống Nguyên. Phạm Ngũ Lão xuất thân bình dân cũng có thể là môn khách và con rể của Đức Thánh Trần. Một xã hội tương đối êm dịu và nhẹ nhàng, trừ giai đoạn cuối. Nhưng đến thời Lê sơ, mọi sự đã khác. Nhà Lê thắng nhà Minh về mặt quân sự, nhưng thua về tư tưởng, khi độc tôn Nho giáo, bê nguyên mô hình nhà nước của nhà Minh áp dụng ở Việt Nam. Việt Nam đạt đến đỉnh cao vào thế kỷ 15 dưới Vương triều Lê Thánh Tông, cả về kinh tế, văn hoá, chính trị, lãnh thổ Đại Việt mở rộng đến trung trung bộ, so với các quốc gia Đông Nam Á đương thời thì không nước nào sánh bằng. 
Đại Việt không tránh khỏi quy luật nghiệt ngã : khi phát triển đén đỉnh cao, lại là bắt đầu đi xuống. Từ cuối thế kỷ 15, Đại Việt bắt đầu trượt dài về mọi mặt, mặc dù đôi lúc có điểm sáng le lói như Hội An, Thanh Hà, Phố Hiến. Các cuộc chiến tranh phong kiến liên miên trong các thế kỷ 16, 17, 18 cùng các cuộc khởi nghĩa nông dân đã làm hao mòn vật lực của đất nước. 
Cũng trong thời gian đó, cuộc nam chinh được tiến hành dữ dội, bắt đầu từ chuyến ra đi của Nguyễn Hoàng năm 1558. Đến thế kỷ 17, lãnh thổ đã chạm mũi Cà Mau. 
Tư tưởng Nho Giáo đã gây ra sự trì trệ. Hầu như không một cuộc cải cách nào giành được thắng lợi. Triều đại có tư tưởng thoát nông, trọng thương là nhà Mạc cũng nhanh chóng bị đánh bại bởi lũ vua quan nhà Lê thủ cựu. Các tư tưởng cải cách của Hồ Quý Ly cũng trở thành trò chơi dưới con mắt của các trí thức phong kiến. Trong cái quy luật chung đó, sự ra đời của nhà Nguyễn đầu thế kỷ 19 là tiếng thở dài cuối cùng của nền chuyên chế Việt Nam. Mặc dù cơ hội cho nhà Nguyễn rất nhiều, khi ngay từ 1804, chính quyền Pháp đã đề nghị đặt quan hệ ngoại giao, tự do buôn bán, cho truyền đạo Thiên Chúa tự do. Nhà Nguyễn khước từ và vẫn hướng về phương Bắc. Cơn mê ngủ của nhà Nguyễn còn triền miên hơn Mãn Thanh. Khả năng phòng thủ đất nước không còn. Chỉ khi tiếng súng nổ ầm bên tai ngày 1/9/1858 , lúc ấy nhà Nguyễn mới tỉnh giấc. Nhưng mọi sự đã an bài.
                                                                                                              Phúc Yên: 28. 10. 2018.

Thứ Bảy, 27 tháng 10, 2018

VĂN MIẾU

Ảnh Internet.

Có một tỉnh nọ ở Bắc Bộ, xây một công trình cỡ vài trăm tỉ, họ gọi là Văn Miếu, nhưng xây xong không biết thờ ai. Vậy có bài viết này. 
Khổng Tử là nhà tư tưởng vĩ đại của Trung Quốc, ông sống trong thời Xuân Thu, trước công nguyên khoảng 500 năm. Ông được coi là Vạn thế sư biểu, bậc thầy của muôn đời. Tuy nhiên, lúc ông sống, tư tưởng của ông không được trọng dụng, dù ông đi khắp các nước để giao giảng lý thuyết của mình. Ông chỉ được giữ một chức quan nhỏ ở nước Lỗ, quê ông. Khi ông mất, người ta dựng miếu thờ ông ở Khúc Phụ, Sơn Đông, là quê của ông, gọi là Khổng Miếu, tức miếu thờ Khổng Tử.
Từ thời Hán Vũ Đế, tư tưởng của Khổng Tử trở thành tư tưởng chính thống của các triều đại phong kiến Trung Quốc, nó trở thành giường cột tinh thần không chỉ ở Trung Quốc mà còn ở các nước chịu ảnh hưởng của văn hoá Trung Quốc, trong đó có Việt Nam.
Đến thời Đường Thái Tông, đầu thế kỷ 7 cn, Đường Thái Tông truy phong cho Khổng Tử tước vị Văn Tuyên Vương, và đổi tên Khổng Miếu thành Văn Tuyên Vương miếu, tức là miếu thờ Văn Tuyên Vương, cũng vẫn là miếu thờ Khổng Tử. Chữ Văn ở đây là chỉ Khổng Tử.
Năm 1070, nhà Lý cho xây dựng Văn Miếu ở Thăng Long để thờ Khổng Tử, đánh dấu đạo Nho trở thành hệ tư tưởng chính thống của Việt Nam. Văn Miếu ở Thăng Long thờ Khổng Tử và một số đồ đệ của ông như Chu Công. Người Việt duy nhất được thờ trong Văn Miếu là Chu Văn An. ( thật ra Chu Văn An cũng là gốc Trung Quốc, vì thân phụ của Ngài là một người Trung Quốc sang Việt Nam dạy học, lấy một bà ở Thịnh Liệt, Thanh Trì, Hà Nội, sinh ra Chu Văn An)
Như vậy, Văn Miếu là miếu thờ Khổng Tử, không phải là thờ văn học hay văn hoá như nhiều người nhầm lẫn. Nếu đã xây Văn Miếu thì chỉ thờ Khổng Tử, không thờ ai khác. Những người khác trong đó chỉ là ăn theo. Ví dụ bây giờ ta xây một cái miếu thờ Các Mác thì phải gọi là Mác miếu, chứ không thể gọi là Văn Miếu được.

                                                                                                     Hà Nội: 30. 9. 2018.
Liên kết đáng xem:
THIỀN THƠ VÀ CẢM XÚC CHIỀU MƯA

ĐỖ MƯỜI

Ảnh Internet.

Ông là sự điển hình của người nông dân Bắc Bộ đi làm cách mạng thế kỷ 20. Đây là một nét độc đáo của lịch sử Việt Nam thế kỷ trước. Và điều này thể hiện cả mặt mạnh và mặt yếu thế hệ ông. Mặt mạnh là lòng yêu nước, sự hăng hái, nhiệt tình, đã tin vào cái gì là làm đến cùng để thực hiện niềm tin đó, và cả sự gan góc đến mức độ không sợ cái chết, điển hình cho điều này là cuộc vượt ngục ở Hoả Lò năm 1940, khi ông dám băng qua cả một hệ thống điện cao thế, trốn thoát ra ngoài tiếp tục sự nghiệp. Ông cùng với nhiều người khác đã tạo ra một thế hệ vàng của lịch sử Việt Nam hiện đại. Một thế hệ không tham nhũng, không vương vấn chuyện gia đình, tất cả vì lý tưởng và Tổ Quốc.
Nhưng, điểm yếu ở thế hệ ông và cá nhân ông, cũng xuất phát từ những điểm mạnh đó. Yêu nước thái quá, nhiệt tình thái quá, tin tưởng thái quá. Và những cái đó in hằn trong lịch sử đất nước. Ông sống chủ yếu trong thời kỳ chiến tranh lạnh, ông tin tưởng tuyệt đối vào Mac Lenin, căm ghét chủ nghĩa tư bản đến cùng cực, câu nói nổi tiếng của ông: giai cấp tư sản giống như lũ chuột cống, nhìn thấy là phải đập chết. Câu này có cái gì giống như suy nghĩ của Pavel thời nội chiến ở Ucraina: sẵn sàng cầm dao đi sửa bọn tư sản bên Ý.
Ông nghĩ như thế, và trong hoàn cảnh ấy, cũng không trách ông được. Lúc ấy, toàn dân ta vẫn tin rằng: đồng hồ Liên Xô tốt hơn đồng hồ Thuỵ Sĩ, trăng Trung Quốc tròn hơn trăng nước Mĩ, vậy có sao đâu khi ta chứng kiến ông làm cuộc cải tạo tư sản ở Sài Gòn năm 1978, đã quét sạch đám tư sản mại bản, chủ yếu là người Hoa, ra khỏi nền kinh tế Việt Nam. Trong một chừng mực nào đó, khối đại đoàn kết dân tộc bị xâm phạm nặng nề, nhiều gia đình lâm vào cảnh khuynh gia bại sản. Nhưng hậu quả đối với đất nước thì trầm trọng và lâu dài, khi cái đầu tàu của nền kinh tế là giai cấp tư sản đã bị chặt đứt. Và thật may mắn, 8 năm sau, ta đã nhận ra sai lầm đó.
Cái sai lầm của ông và những người thuộc thế hệ ông, xuất phát từ thành phần xuất thân. Nông dân đã nói là làm, đã đi là đến,đã bàn là thông. Ông tin thế và làm như thế. Có thể, những việc làm của ông đã ảnh hưởng nhất định đến sự phát triển của đất nước theo hướng tiêu cực, nhưng không ai phủ nhận lòng nhiệt tình yêu nước của ông. Mọi thứ đã được sửa chữa. Và đất nước vẫn đi lên. Niềm vui luôn luôn là cánh cửa, mở đến quanh ta, toàn ta nữa, chan hoà.

                                                                                                         Trần Khoa: 03. 10. 2018.

CHUYỆN BÊN TÀU, BÊN TA

Lý Uyên, người sáng lập ra nhà Đường đầu thế kỷ 7 CN, có hai người con nổi tiếng là Lý Kiến Thành ( cả) và Lý Thế Dân ( thứ) . Thế Dân giỏi hơn, có công lao chính trong việc lật nhà Tuỳ và các thế lực cát cứ. Lý Uyên lại muốn truyền ngôi cho Kiến Thành, con trưởng. Trước tình hình đó, Thế Dân sử dụng kế " dĩ nhân phát chế ", lừa Kiến Thành đến Huyền Vũ môn, và bắn chết Kiến Thành. Đó là sự kiện Huyền Vũ môn nổi tiếng trong lịch sử Trung Quốc năm 626. Sau đó Thế Dân lên ngôi Hoàng Đế Đại Đường, gọi là Đường Thái Tông, niên hiệu Trinh Cát.
CHUYỆN BÊN TA
Đầu thế kỷ 13, nhà Trần thay nhà Lý. Trần Thủ Độ là kiến trúc sư của triều đại mới. Ông không có con, chỉ có hai người cháu là Trần Liễu ( anh) và Trần Cảnh ( em). Thủ Độ đưa Trần Cảnh lên ngôi vua. Có thể suy đoán, do Trần Liễu quá giỏi nên Thủ Độ không chọn, ông chọn người tài năng kém hơn để dễ sai khiến. Tất nhiên, một người có thể sinh ra Trần Hưng Đạo thì không thể là người tầm thường.
Sau đó, Thủ Độ còn bắt Trần Liễu nhường vợ cho Trần Cảnh. Đã không được lên ngôi vua, lại mất vợ, Trần Liễu nổi loạn chống lại Thủ Độ. Bị Thủ Độ đánh bại, ông chạy ra Đông Triều, Quảng Ninh.
Trần Cảnh thương anh, trốn ra Quảng Ninh. Hai anh em ôm nhau khóc trên thuyền. Trần Cảnh muốn nhường ngôi cho anh. Thủ Độ nghe tin, ra ngay Đông Triều, cầm gươm toan chém Trần Liễu, Trần Cảnh ôm chặt lấy anh, khóc. Sau đó, Trần Liễu đầu hàng, bãi binh. Trần Cảnh chính thức lên ngôi, gọi là Trần Thái Tông, niên hiệu Nguyên Phong. Trần Liễu được phong tước An Sinh vương
Bình luận về chuyện này, vua Trần Dụ Tông có bài thơ :
Sáng lập Đường Trần nhị Thái Tông
Kia xưng Trinh Cát ngã Nguyên Phong
Kiến Thành bị hại, An Sinh tại
Miếu hiệu tuy đồng, đức bất đồng

                                                                                               Trần Khoa :05. 10. 2018.

TỪ HỒ SĨ TẠO ĐẾN HỒ CHÍ MINH

Câu chuyện này, nhiều người biết, cũng nhiều người chưa biết, vậy viết lại để ai đã biết thì đọc lại, ai chưa biết thì biết thêm về những người không nổi tiếng, nhưng lại nhờ một người nổi tiếng, trở thành nổi tiếng ( theo cách nói của gs Trần Quốc Vượng) . Bài này viết lại theo trí nhớ bài nói chuyện của nhà văn Sơn Tùng, tác giả Búp sen xanh, và bài dã sử của gs Trần trong tập sách Trong cõi ( xuất bản ở Mĩ) . 
Giữa thế kỷ 19, ở huyện Quỳnh Lưu, Nghệ An có nhà nho Hồ Sĩ Tạo, một người hay chữ. Lúc ấy, ông đang dạy học ở nhà họ Hà. Nhà họ Hà có cô Hà Thị Hy, năm đó khoảng 20 tuổi. Cô Hà Thị Hy, xinh gái, hát hay, đặc biệt có điệu múa đèn nổi tiếng, nên dân làng gọi là cô Đèn. 
Thời gian trôi, Hồ Sĩ Tạo và cô Hà Thị Hy phải lòng nhau, kết quả, cô Hà Thị Hy mang thai. 
Nhưng Hồ Sĩ Tạo đã có vợ con, mặt khác ông không muốn đèo bòng thêm tập nữa, vì cô Hà Thij Hy cũng thuộc loại xướng ca, không hợp với vị trí nhà nho như ông. 
Lúc ấy ở làng Sen, Nam Đàn có một lão nông tri điền tên là Nguyễn Sinh Nhậm. Ông này vợ chết, có một con trai tên là Nguyễn Sinh Thuyết. Nhờ người mai mối, cô Hà Thị Hy đã lấy ông Nhậm. Cưới được mấy tháng thì cô sinh được một con trai, đặt tên là Nguyễn Sinh Sắc ( thực ra là con của Hồ Sĩ Tạo). 
Tất nhiên sẽ dẫn đến chuyện có sự tranh giành nhà cửa giữa Nguyễn Sinh Thuyết với Nguyễn Sinh Sắc, hai anh em, nhưng thật ra không có quan hệ ruột thịt với nhau.
Để tránh chuyện ấy, ông Nhậm đưa Nguyễn Sinh Sắc sang nhà ông Hoàng Xuân Đường, ở Hoàng Trù, Nam Đàn, cũng là một nhà nho, làm người ở thuê, chăn trâu cắt cỏ. Vốn là nhà nho, ông Hoàng Xuân Đường nhận thấy ở cậu Sắc những nét khác người, không phải loại vai u thịt bắp ( tất nhiên là thế, vì cậu Sắc là con Hồ Sĩ Tạo). Nhà nho Hoàng Xuân Đường đã cho Sắc ăn học, và gả con gái là Hoàng Thị Loan cho cậu,cho nhà cửa, đất đai. Sau này, những người con của ông bà Sắc _Loan: Nguyễn Sinh Khiêm, Nguyên Thị Thanh, Nguyễn Sinh Cung, Nguyễn Sinh Sin đều ra đời ở quê ngoại Hoàng Trù. 
Nguyến Sinh Sắc đi thi mấy lần, đều trượt. Hồ Sĩ Tạo, dù không dám nhận con, nhưng vẫn âm thầm theo dõi. Nhờ sự vận động của ông với bạn bè ở Huế, năm 1901, Nguyễn Sinh Sắc đỗ Phó bảng trong kỳ thi năm đó. Những người đỗ chính thức được ghi tên trên bảng chính. Những người đỗ vớt được ghi tên trên bảng phụ, gọi là phó bảng. Nguyễn Sinh Sắc thuộc loại thứ hai.
Sau khi đỗ đạt, Nguyễn Sinh Sắc phải về quê nội làng Sen làm lễ vinh quy bái tổ, nhận sắc phong của Thành Thái. Sau đó ông được bổ nhiệm làm quan ở Bình Khê, Quảng Nam. Gia đình cũng dịch chuyển vào Huế. 
Trong một lần say rượu, Nguyễn Sinh Sắc mắc tội ngộ sát, cho lính đánh chết một người nông dân. Gia đình người này kiện lên quan trên, ông Sắc mất chức. Lúc ấy bà Loan đã mất. Ông phiêu bạt vào phương nam xa xôi. 
Cùng thời gian đó, Nguyễn Tất Thành cũng di chuyển từ Huế vào Sài Gòn. Ông cả Khiêm và bà Thanh vẫn ở Nghệ An.
Gia đình Nguyễn Sinh Sắc vẫn nhớ gốc gác họ Hồ của mình. 
Ông Sắc phiêu bạt vào tận Cao Lãnh, Đồng Tháp,làm nghề dạy học và bốc thuốc. Ông lấy một bà ở đó, hai ông bà đẻ được một con trai, người này sau đi tu, là một nhà sư. Ông Nguyễn Sinh Sắc mất năm 1937 tại Cao Lãnh, Đồng Tháp. 
Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc chắc chắn biết nguồn gốc họ Hồ của mình. Tất nhiên là thế. Cái tên Hồ Chí Minh ra đời năm 1941, khi Người sang Trung Quốc công tác. Ba chữ Hồ Chí Minh nghĩa là gì? Hiểu nôm na là người họ Hồ đến chỗ ánh sáng ( đại khái thế) . Nhưng người Nghệ An có kiểu nói lái. Chí Minh là chính mi. Hồ Chí Minh: chính mi là họ Hồ.
                                                                                                      Trần Khoa: 07. 10. 2018.

PHẠM QUỲNH

Ảnh Wikipedia 

Ông xuất hiện vào đầu thế kỷ 20 như một hiện tượng đặc biệt, khi văn minh phương Tây đã vào Việt Nam, nhưng chưa định hình, văn hoá truyền thống đang thở những giờ cuối cùng, vẫn còn thoi thóp, một xã hội hỗn canh hỗn cư, đầy biến động và lo âu. Trong bối cảnh đó, tạp chí Nam Phong của ông như làn gió mới thổi vào cuộc sống tinh thần dân tộc. Ông là cái gạch nối đông tây. Ông muốn dang tay chào đón nền văn minh mới, nhưng vẫn muốn duy trì văn hoá cổ truyền, và muốn đem lại cho nó một sức sống mới. Ông kết nối hai nền văn hoá đông tây, đưa văn hoá Việt Nam ra thế giới, và đưa văn minh phương Tây đến Việt Nam. Những kẻ không hiểu ông, lại cho ông có đủ tiếng Hán để lừa Pháp và có đủ tiếng Pháp để bịp người Việt. Thực tế, trên tạp chí Nam Phong, người ta có thể thấy đây là một bộ Bách Khoa toàn thư về Việt Nam và thế giới lúc đó. Với vốn kiến thức sâu sắc, ông đã mở mang dân trí, khai thông dân khí, đề cao chữ quốc ngữ, đặc biệt ông có lý khi nói rằng: tiếng ta còn, nước ta còn. Chẳng phải hơn 1000 năm Bắc thuộc, người Việt không bị Hán hoá là do người Việt giữ được tiếng nói đó sao? 
Ông có biệt tài trong viết du ký.Ba tác phẩm nổi tiếng của ông trên Nam Phong: Pháp du hành trình nhật ký, Ba tháng ở Nam Kỳ, Mười ngày ở Huế đã cho chúng ta những kiến thức văn hoá vô tận. Chuyến đi Pháp của ông đầu những năm 20 thế kỷ trước đưa ta từ Hải Phòng, Vũng Tàu, đến Xinhgapo, Ấn Độ Dương, kênh Xuye, tới Châu Âu, và ở vùng đất nào, ông cũng có những kiến thức sâu rộng và mới mẻ. 
Nếu chỉ có thế, thì ông mãi mãi được người Việt tôn kính là nhà yêu nước, nhà văn hóa lớn. Bước ngoạt cuộc đời ông năm 1933, khi ông bỏ Hà Nội bỏ Nam Phong, vào Huế làm Thượng Thư, bắt đầu sự nghiệp chính trị. Ông ngây thơ, khi không biết rằng hai lĩnh vực đó hoàn toàn khác nhau. Làm quan cho một chính quyền bù nhìn đã là sai lầm, mà sai lầm lớn hơn là ông nhảy từ địa hạt văn hoá sang lĩnh vực cai trị. Trong bối cảnh đó, ông phải đưa ra chính kiến của mình. Ông chủ trương xây dựng ở Việt Nam chế độ quân chủ lập hiến. Cái thể chế này do nước Anh phát minh ra cuối thế kỷ 17, đến thời ông, không mới cũng không cũ. Nhưng ông cô đơn giữa bao nhiêu thế lực. Trên ông là lũ vua quan bù nhìn, là Pháp, là Nhật. Nên mọi ý tưởng của ông đều chỉ là ý tưởng. 
Nếu ông chỉ dừng lại ở lĩnh vực văn hoá, thì có lẽ bây giờ ở Hà Nội, Sài Gòn sẽ có một con phố nhỏ mang tên ông, như những người cùng thời với ông: Nguyễn Văn Ngọc Phan Kế Bính... 
Và nếu có điều đó, thì cuộc đời của ông cũng đỡ bi thảm hơn.
Ông không được chấp nhận, khi lịch sử thay đổi. Cuộc cách mạng tháng 8, mùa thu năm 45 đã không chấp nhận ông. Chỉ vài ngày sau khi Cụ Hồ đọc Tuyên ngôn ở Ba Đình, vào một đêm mùa thu định mệnh trên đất cố đô, người ta đã lôi ông ra khỏi ngôi biệt thự ven sông Hương, và bắn chết ông. Cái chết của ông đến giờ vẫn đầy bí hiểm. Ai ra lệnh giết ông? Ai là người bắn ông? Nhưng chắc chắn không phải là những lãnh tụ của Đảng cộng sản, họ không có lý do gì để hại ông. 
30 năm sau ngày ông ra đi, một người con trai của ông đã viết những câu: như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng. Chẳng biết nơi chín suối, ông có ngậm cười?
                                                                                                  Trần Khoa: 09. 10. 2018.

TẢN MẠN VỀ TRUNG QUÔC

Chưa bao giờ dân Việt lại ghét Tàu như bây giờ, ghét cay ghét đắng.  Giống như ngày xưa, có thời ghét Pháp, ghét đến mức độ nếu có điều kiện...